Trong trang này
Kế hoạch ứng cứu khẩn cấp
Hành động ứng cứu
Vệ sinh sau sự cố |
ỨNG CỨU KHẨN CẤP
AN TOÀN HOÁ CHẤT > Hoá chất nguy hại > Ứng cứu khẩn cấp
KẾ HOẠCH ỨNG CỨU KHẨN CẤP
Bất kỳ đơn vị sản xuất nào có sử dụng hay sản xuất chất nguy
hại đều phải xây dựng được kế hoạch ứng cứu khẩn cấp để phòng
khi xảy ra sự cố. Ứng cứu khẩn cấp bao gồm là các công tác
cần thực hiện nhằm khắc phục sự cố nhanh nhất, hiệu quả nhất,
đảm bảo an toàn cho con người, cộng đồng và môi trường. Kế
hoạch này phải được chuẩn bị chu đáo và tập huấn thường xuyên
ngay cả khi chưa xảy ra sự cố. Thông thường các đơn vị quản
lý và sử dụng chất nguy hại phải thực hiện một số công tác
sau đây:
Quản lý sự cố khẩn cấp
Đơn vị có sử dụng và sản xuất chất nguy hại phải quản lý chặt
chẽ các sự cố khẩn cấp có thể xảy ra bằng các biện pháp sau:
- Đánh giá rủi ro: xem xét các nguy cơ tiềm năng và dự đoán
những sự cố có thể xảy ra trong từng điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể.
- Áp dụng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế và giảm thiểu
khả năng xảy ra rủi ro
- Lập kế hoạch ứng cứu trong trường hợp có sự cố để bảo vệ
con người, môi trường và tài sản
- Lập kế hoạch mua sắm trang thiết bị ứng cứu và thiết bị
an toàn, trang bi chu đáo cho những nơi có khả năng xảy ra
sự cố.
- Tổ chức tốt công tác huấn luyện cho những người làm công
tác ứng cứu sự cố
Kế hoạch ứng cứu sự cố
Kế hoạch ứng cứu sự cố là một hệ thống hoàn chỉnh các công
vệc cần thiết phải thực hiện, trách nhiệm được giao và con
người có liên quan, việc bảo quản và sử dụng các máy móc thiết
bị ứng cứu nhằm tránh tình trạng bị động, lúng túng khi sự
cố xảy ra. Nội dung kế hoạch ứng cứu gồm
- Xác định sự cố và vị trí có thể xảy ra
Cơ sở có sản xuất, sử dụng, lưu trữ chất nguy hại cần xác
định các khu vực, vị trí có khả năng xảy ra sự cố; nguyên
nhân gây nên sự cố, ước lượng mức độ nguy hiểm của sự cố đối
với con người và môi trường.
- Đảm bảo thông tin liên lạc
Cơ sở đầu tư các thiết bị trong hệ thống thông tin để rút
ngắn thời gian truyền tin khi có sự cố. Đối với hệ thống liên
lạc nội bộ, cần phải có người thường xuyên túc trực để thông
báo kịp đến các đơn vị khác trong nhà máy hay khu vực sản
xuất. Kênh liên lạc ra bên ngoài cũng phải đảm bảo thông suốt
liên tục để gọi lực lượng cứu hộ, chuyên nghiệp cũng như kịp
thời xin ý kiến chỉ đạo.
Tại vị trí có khả năng xảy ra sự cố phải bố trí hệ thống báo
động. Cơ sở bố trí nhân sự phụ trách về sự cố tại chỗ, người
chịu trách nhiệm về sự cố. Các địa chỉ liên lạc để ứng cứu
sự cố được cung cấp trước cho người làm việc với chất nguy
hại và người có liên quan.
Sau khi xác định có sự cố, thông tin truyền đi bao gồm các
nội dung về diễn biến sự cố, về tác động nguy hại tại hiện
trường, vị trí diễn ra sự cố, tình trạng hiện trường, những
tổn thất.
Trong kế hoạch ứng cứu sự cố, cần phải phân công rõ nhiệm
vụ của mỗi người lao động theo thứ bậc rõ ràng; có người thừa
hành, người ra quyết định.
Hệ thống thiết bị ứng cứu phải được thường xuyên bảo trì và
bổ sung thêm cho đầy đủ cơ số theo qui định. Công tác bảo
trì có thể thực hiện theo định kỳ, hàng tháng hay hàng quý
nhưng không nên để quá lâu cho đến hàng năm, có thể chỉ lau
chùi và vô dầu mỡ, có khi phải vận hành thử, xem xét hoạt
động của thiết bị còn tốt hay không, đo lại các thông số kỹ
thuật và điều chỉnh cho đúng tiêu chuẩn qui định.
Quy trình ứng cứu là trình tự các công việc phải làm khi sự
cố xảy ra. Qui trình này được xây dựng dựa trên nguyên tắc
cứu hộ cho con người rồi mới đến môi trường và tài sản: cứu
hộ ở các vị trí sản xuất chính trước khu vực sản xuất phụ
trợ, cứu hộ hồ sơ sổ sách trước nhà xưởng, …
Cần phải tổ chức các lớp tập huấn thường xuyên cho công nhân
trong Đội ứng cứu - thoát hiểm,
Trong thiết kế, hướng dẫn vận hành hệ thống trong nhà máy
cũng như ở môi trường sinh hoạt của khu dân cư đều phải có
vạch trước các đường thoát hiểm.
Đường thoát hiểm được vẽ sẵn trên sơ đồ và có bảng chỉ dẫn
đến lối thoát.
Hệ thống thang, đường thoát hiểm phải được chuẩn bị đầy đủ
và kiểm tra sửa chữa, duy tu thường xuyên. Nội dung cụ thể
của thao tác thoát hiểm sẽ được tập huấn cho từng thành viên
làm việc hay sinh sống ở đó.
Trong các khu vực lưu trữ, sử dụng và sản xuất chất nguy hại
càng cần phải có phương tiện cứu sinh và thoát hiểm. Cửa và
cầu thang thoát hiểm phải được mở thường xuyên trong thời
gian nhà máy hoạt động.
Trong công tác cứu hộ, phải ưu tiên cứu người trước rồi mới
đến tài sản. Do vậy, tại các cửa thoát hiểm cần phải có thông
báo cụ thể để nhắc nhở mọi người bình tĩnh, thực hiện đúng
nguyên tắc thoát hiểm, tránh tình trạng tranh giành lối thoát
hiểm để vận chuyển tài sản. Thoát theo thứ tự ưu tiên, không
gây tắc nghẽn hệ thống thoát hiểm, đặc biệt là các khu chung
cư.
Thiết bị ứng cứu
Thiết bị dùng khắc phục sự cố, giảm tổn thất do sự cố được
để sẵn tại nơi có khả năng xảy ra sự cố. Vị trí đặt thiết
bị ứng cứu phải thoáng, không bị che chắn, dễ thấy, dễ thao
tác. Những thiết bị này thường xuyên được kiểm tra, bảo quản
luôn ở trong tình trạng sẵn sàng hoạt động.
Các thiết bị, dụng cụ ứng cứu phải bao gồm nhiều loại để đối
phó với những loại sự cố khác nhau và để kiểm tra mức ảnh
hưởng sau sự cố (kiểm tra mẫu nước, đo nồng độ không khí…).
Các thiết bị dụng cụ tiêu biểu như sau:
- Thiết bị kiểm tra, đo đạc: máy đo nồng độ khí độc, kiểm
tra và báo cháy,…
- Trang thiết bị đối phó với sự cố:
- Trang thiết bị bảo vệ con người.
- Thiết bị, dụng cụ rút chất nguy hại ra khỏi khu vực có sự
cố và làm sạch hiện trường như vật liệu hút nước: cát, mùn
cưa; dung dịch tẩy; chổi; xẻng; cờ le vặn nắp thùng; phễu
kim loại;
- Dụng cụ bít kín: nút chèn bằng gỗ trên thùng gỗ; chất bịt,
trát chịu đựng trong môi trường hóa chất.
- Cấp cứu y tế đối với con người: thiết bị hay dụng cụ cấp
cứu hô hấp, tim mạch, dụng cụ hóa chất cấp cứu vết thương
gồm băng, gạc, nước rửa…
Huấn luyện thao tác ứng cứu khẩn cấp
Người làm việc với chất nguy hại được cung cấp các thông
tin và huấn luyện về các hành động cứu chữa khi sự cố xảy
ra gồm các nội dung sau.
- Thông thuộc cách bố trí nhà kho hoặc xưởng sản xuất, các
đường thông thoát
- Thực hành sơ cứu, cấp cứu y tế.
- Biết công dụng thiết bị máy móc, thực hành quy tắc vận hành
an toàn, đặc biệt là hành động cần thực hiện ngay khi xảy
ra sự số mới xảy ra: ngưng máy khẩn cấp…
- Tập thành thạo cách sử dụng các phương tiện thông tin: chuông
báo động, còi, điện thoại…
- Biết các địa chỉ liên lạc đến người có khả năng giải quyết
sự cố và cơ quan chức năng.
- Sử dụng dụng cụ phòng hộ cá nhân, thiết bị cứu hộ.
Các biện pháp kỹ thuật để giảm rủi ro sự cố
- Xác định vị trí xây dựng nhà máy ngay từ ban đầu, tránh
gây ô nhiễm rủi ro, cháy nổ, dễ dàng ngăn chận tình trạng
sự cố lây lan, hạn chế tác hại của sự cố
- Thực hành các biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự cố:
- Xây dựng đê bao an toàn xung quanh khu vực đựng hoá chất
nguy hại, có thể là xung quanh thùng đựng hoá chất, xung quanh
kho.
- Lắp đặt các trang thiết bị an toàn
- Phối hợp các thành phần trong cùng một quá trình để có sự
hoạt động đồng bộ, ngưng đồng bộ khi có một thành phần ngưng
hoạt động
- Hệ thống phòng chống cháy nổ phải đặt rải rác khắp các nơi
trong nhà máy, đặc biệt chú ý những nơi có khả năng xảy ra
sự cố, không được chỉ đặt tập trung ở một nơi và cách xa vị
trí sự cố tiềm năng.
- Thiết kế thiết bị chứa hợp lý, tính toán chính xác khả năng
sự cố xảy ra, biện pháp đối phó tối ưu.
- Lắp đặt các thiết bị giám sát, kiểm soát để nhanh chóng
phát hiện khi có vấn đề, nhằm đối phó kịp thời khi sự cố xảy
ra. Xác định mức độ ảnh hưởng của sự cố đến từng nhân tố:
con người, đất, nước, không khí,…
Chiến lược quản lý sự cố
Bao gồm các bước:
- Phác thảo kế hoạch : là bước sơ khởi trong chiến lược quản
lý sự cố.
- Lập kế hoạch trên giấy: Việc vạch ra một phương hướng hành
động cần phải thật chi tiết, hoàn chỉnh bằng văn bản giấy
tờ. Bản kế hoạch chính thức cần phải có ý kiến hoặc được phê
duyệt của lãnh đạo cơ quan hay các cấp có thẩm quyền để có
tính khả thi. Nếu có vấn đề cần chuẩn bị trước khi
- Thực hiện kế hoạch
HÀNH ĐỘNG ỨNG CỨU KHẨN CẤP VÀ VỆ SINH SAU SỰ CỐ
Khi sự cố xảy ra, mọi hành động ứng cứu được thực hiện dựa
trên nguyên tắc hàng đầu là bảo vệ tính mạng con người và
cộng đồng dân cư, tiếp theo là bảo vệ môi trường, cuối cùng
mới là bảo vệ thiệt hại về tài sản.
Hoạt động cứng cứu khi có sự cố bao gồm hai giai đoạn:
1. Giai đoạn ứng cứu
2. Vệ sinh sau sự cố
Hành động ứng phó khẩn cấp
Mỗi loại hoá chất đều có đặc tính riêng biệt, do đókhi sự
cố xảy ra ta cần phải phán đoán chính xác nguyên nhân đểø
thực hiện các biện pháp ứng cứu thích hợp. Người có trách
nhiệm trong việc xử lý sự cố tại hiện trường cần phải nhanh
chóng đưa ra những quyết định để ngăn chận sự cố, phân tán
sự cố, bảo đảm an toàn cho con người, môi trường và tài sản,
giảm những nguy cơ do sự cố gây ra, và xem có cần hổ trợ hay
không.
Về cơ bản, nhiệm vụ chính của giai đoạn ứng cứu là làm thế
nào để:
- Ngăn chận sự lan truyền hậu quả và thiệt hại của sự cố,
đưa các nạn nhân ra khỏi vùng sự cố, chẩn đoán sơ bộ, cấp
cứu, loại bỏ sự tiếp xúc với chất nguy hại và đưa nạn nhân
đến bệnh viện
- Hạn chế những thiệt hại do sự cố gây ra, tìm hiểu sơ bộ
nguyên nhân xảy ra sự cố để khắc phục tại chỗ và có hướng
giải quyết để ngưng ngay diễn tiến của sự cố
- Hạn chế khối lượng cần làm sạch, xử lý sau sự cố
- Loại bỏ các nguy cơ nghiêm trọng để có thể bắt đầu làm vệ
sinh
Vệ sinh sau sự cố
Tùy vào sự cố và tác nhân gây sự cố, chúng ta thực hiện
các biện pháp vệ sinh thích hợp. Thông thường, các sự cố khẩn
cấp dễ nhận biết cần giải quyết là cháy nổ và chất nguy hại
biï rò rỉ hoặc đổ tràn. Hai giai đoạn cần làm vệ sinh sau
sự cố là:
• Dọn dẹp sạch chất thải
- Khi chất nguy hại bị đổ vỡ hay rò rỉ nên giải quyết trực
tiếp, khẩn trương và sau đó dùng tấm phủ che bảo vệ bằng chất
liệu thích hợp đã có chỉ dẫn. Tiếp sau là không cần phải tính
toán dù một lượng nhỏ chất bị rò rỉ không nên vội vàng dùng
nước xối nước trực tiếp và đừng nên để cho nước dội này chảy
vào hệ thống thoát nước vào cống rãnh.
- Trở lại vị trí và là môi trường địa phương để đặt bảng hiệu
ngay trước vị trí xuất hiện rủi ro và sắp xếp, thu dọn hiện
trường, làm sạch chất thải
- Chất lỏng bị tràn nên dùng cát và mùn cưa hút hết và không
để lại bụi. Bụi mùn cưa nên đốt hay làm ôxy hóa nếu là loại
chất 3 - loại 5.
- Phần rắn nứt vỡ nên làm sạch với máy hút bụi công nghiệp.
- Đối với chất khí độc thoát ra do sự cháy hay rò rỉ nên được
đối phó bằng cách thông thoáng và sử dụng thiết bị bảo vệ
hô hấp cho người.
- Quản lý rác thải: tất cả các loại rác bao gồm cả bao bì,
nẹp bị hư nên sắp xếp bố trí trong một két sắt và sao cho
không ảnh hưởng tới môi trường.
- Tất cả các thùng chứa bị vấy dơ không nên có ý nghĩ sẽ sử
dụng lại, cần tẩy sạch tại những nơi cần thiết và làm xì trước
khi bỏ đi
- Ngăn ngừa nạn ô nhiễm nước ngầm và nước mặt do chất thải
nguy hại sinh ra trong quá trình xảy ra sự cố
Khôi phục lại môi trường
- Xử lý bằng phương pháp hoá lý, sinh học hay cơ học để khôi
phục trở lại tình trạng ban đầu của môi trường xảy ra sự cố.
- Chu ý việc phát sinh những hiệu ứng phụ của quá trình xử
lý này.
Quản lý môi trường sau sự cố
Sau khi sự cố xảy ra cần lập hồ sơ để quản lý, trong đó
nêu rõ
- Diễn biến sự cố, các biện pháp khắc phục sự cố đã thực hiện,
kết quả đạt được.
- Đánh giá, định lượng các tổn thất về vật chất và con người.
- Xác định nguyên nhân và quy trách nhiệm cho những cá nhân
có liên quan: Sau khi giải quyết sự cố, những người có trách
nhiệm và liên quan đến sự cố triển khai rút kinh nghiệm. Phân
tích nguyên nhân xảy ra tai nạn để để đưa ra các biện pháp
ứng cứu hiệu quả, tránh tái diễn sự cố. Nếu cần thiết, phải
đưa tin về sự cố, nguyên nhân và những thiệt hại lên phương
tiện truyền thông đại chúng để tạo ý thức cảnh giác, rút kinh
nghiệm cho những người đang sử dụng chất nguy hại.
- Thu dọn hiện trường :
- dọn dẹp sạch chất thải, đào đất bị ô nhiễm đem đi chôn lấp
tại bãi rác
- cô lập nguồn ô nhiễm
- sửa chữa khắc phục hậu quả
- Chứng nhận môi trường đã được khắc phục:
- Theo suy nghĩ của đa số quần chúng
- Theo tiêu chuẩn quy định
tmhai. An toàn hoá chất
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Đức Khiển. Quản lý chất thải nguy hại. NXB Xây
dựng. Hà Nội. 2003
- TÀI LIỆU GIẢNG DẠY KHOÁ TẬP HUẤN QUẢN LÝ CHẤT NGUY HẠI.
BIÊN SOẠN VÀ GIẢNG DẠY: TS. NGUYỄN VĂN PHƯỚC, TS. LÊ TRÌNH,
ThS. JOHN WARD, ThS. VŨ THỊ HỒNG THỦY, CN. ĐOÀN THỊ TỚI,
KS. TRẦN MINH HẢI
|