logo An Toan Hoa Chat
 

JavaScript Free Code
Dân dụng
Nông nghiệp
Công nghiệp
Chất nguy hại
Thông tin hoá chất
Pháp luật
Quản lí
Sản xuất

Từ điển MTrường

envirosafety
vietlinh
Trong trang này

QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG NƯỚC NUÔI

AN TOÀN HOÁ CHẤT > Hoá chất nông nghiệp > An toàn trong nuôi tôm > Quy trình nuôi tôm sú bán công nghiệp > Quản lí môi trường nước nuôi

Nước cung cấp cho ao nuôi đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của vụ nuôi. Nguồn nước tốt nhất để tạo môi trường sạch là lấy xa cửa sông để hạn chế ô nhiễm. Nước lấy trực tiếp từ nguồn thiên nhiên cần phải được xử lý trước khi đưa vào nuôi. Chất lượng nước nuôi tôm được quy định theo bảng sau

Bảng 1. Tiêu chuẩn nước nuôi tôm theo 28 171 : 2001

Thông số

pH

độ mặn

DO

BOD

NH3_N

NO2_N

H2S

Giá trị giới hạn

7,5–8,5

15–25 ‰

>5mg/L

<10mgO2/L

0,1 mg/L

0,25 mg/L

0,02 mg/L

Ao nuôi tôm thường là ao đất có chiều sâu của ao khoảng 1,7 – 2,0 m và mặt nước sâu khoảng 1,0 - 1,2 m là thích hợp. Nếu ao quá sâu, ánh sáng mặt trời không xuyên tới đáy, thức ăn thiên nhiên dưới đáy không có cơ hội tạo thành mà chúng là nguồn thức ăn ưa chuộng cho tôm. Hằng ngày theo dõi các chỉ tiêu oxy hòa tan, nhiệt độ, độ trong, độ sâu và màu nước. Nếu chất lượng nước không tốt phải xử lý để đạt yêu cầu vì các thông số này gây ảnh hưởng đến tôm.

Chất lượng nước thay đổi phụ thuộc vào loại tảo trong nước nhưng tảo lại phụ thuộc vào độ pH. (pH > 8,6 - tảo phát triển mạnh; pH < 8,2 - tảo quá thấp). Độ pH là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nước. Phạm vi thích ứng với tôm Sú là 8,1-8,8 (tôm bé) và 7,5-8,8 (tôm vừa, tôm lớn). Thức ăn còn thừa, chất hữu cơ nhiều trong ao làm pH giảm, nếu pH < 7, dùng các chế phẩm (Maifanstone, Micropower) hoặc các men vi sinh (Hitac Bio Bacteria) để xử lý. Đầu mùa vụ, nếu pH > 9,0 thì dùng bột hạt trà (Sapoin), chế phẩm (Maifan Stone, Amino Power, Hitac Bio-Bacteria) để xử lý và tăng cường cung cấp oxi bằng quạt nước. pH trong ngày biến đổi không quá 0,5.

Khi thấy màu nước thay đổi (tảo lục – màu nước ổn định; tảo khuê – màu nước thay đổi), ta tiến hành đo độ trong bằng đĩa Secchi. Độ trong nên đo vào 14 giờ và dựa vào độ trong đó để xác định khi nào cần thay nước. Trong thời gian 1-45 ngày tổi của tôm, độ trong của nước cần là 25-35cm; 46 – 95ngày tuổi cần độ trong 30 – 40cm; trên 96 ngày cần độ trong 35 – 40cm.

Mỗi giai đoạn phát triển của tôm cần giữ nhiệt độ nước thích hợp. 1 g/con - phát triển tốt ở 30°C; 12–18 g/con - 27°C; > 18 g/con - < 27°C. Ngoài ra, tôm sẽ chết nếu nhiệt độ thấp hơn 13oC hoặc cao quá 30oC.

Độ mặn trong nước được gây ra bởi các nguyên tố chính là Na+ và Cl-. Độ mặn lý tưởng cho tôm phát triển là 8–20‰. Ngoài ra, độ mặn còn chi phối vị đậm đà của thịt tôm. Nước có độ mặn thấp tôm sinh trưởng nhanh nhưng hay bệnh.

Nguồn cung cấp oxi cho ao nuôi chủ yếu là nhờ quang tổng hợp của các phiêu sinh vật và sự khuyếch tán oxi trong không khí nhờ hệ thống quạt nước. Phạm vi an toàn cho tôm từ 5-8ppm, nếu oxy thiếu sẽ ảnh hưởng đến sự bắt mồi, sinh trưởng, nghiêm trọng dẫn đến hiện tượng tôm bị đỏ mang và chết hàng loạt. Ban đêm, nếu oxy dưới 3ppm thì tăng cường sục khí. Buổi sáng từ 11 giờ - 4 giờ chiều nếu oxy cao hơn 15ppm thì cho ngưng quạt nước để giảm oxy.

Amoni (NH4-) trong ao chủ yếu do bài tiết của tôm, thức ăn thừa, sinh vật nổi chết và ngay trong nguồn nước. Hàm lượng NH4- trong nước lớn khiến tôm sinh trưởng chậm, giảm khả năng hấp thụ thức ăn... Khi nồng độ NH3 >2ppm ta có thể thay nước hoặc dùng men vi sinh. Lúc nhiệt độ cao thì nước ao nuôi phân thành 2 lớp, tạo môi trường kỵ khí ở đáy ao và sinh nhiều khí H2S(H2S < 0,01 ppm - an toàn cho tôm).

Khi nồng độ NO²-, H2S vượt qua giới hạn thì xử lý bằng thuốc tím để oxi hóa một phần chất hữu cơ, dùng Zeolite để hấp phụ sau đó dùng chế phẩm sinh học phân hủy đáy ao tạo môi trường cho vi sinh vật có lợi phát triển, gây lại màu nước để tảo hấp phụ các chất ô nhiễm. Để giảm lượng H2S thì phải tăng cường sục khí đáy ao.

An toàn Hoá chất. 02/2006

[ Quay lại ] [ đầu trang ] [ Tải lên mạng: mercredi, 17 juin, 2009 11:53 AM ]