|
Nước
ta có bờ biển dài 3.260 km, với hệ thống kênh rạch chằng chịt
rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi
tôm. Nghề nuôi tôm sú ở nước ta những năm gần đây phát triển
mạnh (446.000ha/ cả nước), sản lượng nuôi bán công nghiệp
trung bình là 800 kg/ha/vụ. Con tôm đã làm thay đổi cuộc sống
của người dân vùng biển. Sản lượng
tôm không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu
ra nước ngoài và góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh
tế cho đất nước (7.662 triệu USD/8 tháng 2004).
Khí hậu và thiên nhiên ưu đãi cho Việt
Nam và cả các nước khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, việc cạnh tranh
giữa các nước diễn ra rất khốc liệt. Các nước Thái Lan, Indonêxia...
là những đối thủ lớn vì họ hơn hẳn ta về trình độ kĩ thuật,
vốn, kinh nghiệm… Để ổn định và tăng năng suất tôm, người
nuôi tôm sử dụng nhiều hoá chất và chế phẩm sinh học hơn.
Hoá chất sử dụng thưỡng xuyên đã gây ra nhiều ảnh hưởng đến
sức khoẻ con người vì đã tiếp xúc trực tiếp với hoá chất và
cũng ảnh hưởng đến môi trường, gián tiếp gây thiệt hại cho
những vụ tôm tiếp theo.
Chính vì vậy, đề tài “Vận hành an toàn quy trình nuôi tôm“
đã mô tả tổng quan quy trình nuôi tôm, phân tích và đưa ra
các yếu tố mất an toàn về hoá chất, hệ thống sục khí và điện…
gây nguy hiểm đến sức khoẻ cũng như tính mạng của người nuôi
tôm. Ngoài ra, đề tài còn tổng hợp thông tin an toàn từ các
bảng dữ liệu thông tin an toàn của các hoá chất sử dụng chủ
yếu trong nuôi tôm cũng như những hoá chất gây nguy hiểm nhiều
nhất đối với người nuôi tôm. Qua đó, xây dựng các bản hướng
dẫn sử dụng an toàn hoá chất và hướng dẫn vận hành an toàn
các thiết bị cơ khí và điện. Dựa trên nền tảng này, tác giả
không chỉ đầu tư về thông tin an toàn hoá chất trong nuôi
tôm mà còn mở rộng trong lĩnh vực hoá chất ngành kỹ thuật
môi trường.
Khánh Khoa. An
toàn Hoá chất. 02/2006 |