Từ điển MTrường

vietlinh
SmartESol

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ QUẨN LÍ MÔI TRƯỜNG

MÔI TRƯỜNG > Kĩ năng học tập > Viết > Báo cáo khoa học > Nội dung báo cáo khoa học > Nghiên cứu khoa học về quản lí môi trường

Trong trang này

đầu trang

ThS. Trần Minh Hải.

Ngày 08/03/2009.

Ở đây, chúng ta xem xét ví dụ một đề tài quản lí về môi trường cụ thể. Đề tài "Quản lí chất thải nguy hại trong nhà". Phần nội dung chính cuả báo cáo cần trình bày như sau.

GIỚI THIỆU

Tên đề tài

Quản lí chất thải nguy hại trong nhà.

Mục tiêu cuả đề tài

  • Khảo sát hiện trạng quản lí chất thải nguy hại trong nhà;
  • Đề xuất giải pháp khả thi kiểm soát loại chất thải này;

Nội dung đề tài

  • Khảo sát nhận thức về chất thải nguy hại trong nhà
  • Khảo sát khối lượng chất thải nguy hại lẫn trong rác thải sinh hoạt
  • Khảo sát hiện trạng quản lí chất thải nguy hại trong nhà
  • Đề xuất các giải pháp kiểm soát chát thải nguy hại trong nhà

Tổng quan tài liệu

Trình bày các nghiên cứu cuả Việt Nam và trên thế giới về chất thải nguy hại. Trong đó đã có nghiên cứu nào về chất thải nguy hại trong nhà chưa. Đã có nghiên cứu về một trong các khiá cạnh: khối lượng, tính chất, tác động, xử lí, thu gom,... chất thải nguy hại trong nhà. Nếu có, thì phần nào đã nghiên cứu, phần nào chưa.

Phần này cũng nên trình bày tổng quan về hiện trạng quản lí chất thải nguy hại phát sinh từ trong nhà.

  • Các giải pháp đã thực hiện:
    • Ngày hội tái chế do Quỹ tái chế chất thải TPHCM tổ chức;...
  • Các kế hoạch đã thử nghiệm mà chưa thành công và các nguyên nhân cuả nó
    • Chương trình phân loại rác tại nguồn; ....

Phần này cần làm rõ, nghiên cứu cuả minh không trùng lắp, mà có kế thừa các kết quả nghiên cứu khác và không vi phạm bản quyền.

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN THÍ NGHIỆM

Thực chất, đây là những khảo sát thực tế cuả đề tài. Nội dung gồm

Các giả thuyết

Tác giả đề xuất các giả thuyết

  • Nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại trong nhà là thấp
  • Khối lượng chất thải nguy hại phát sinh trong hộ gia đình là đáng kể
  • Nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại trong nhà ảnh hưởng đến khối lượng chất thải nguy hại
  • Khối lượng chất thải nguy hại phụ thuộc vào các yếu tố ví dụ: kinh tế hộ gia đình, nghề nghiệp, học vấn, phong tục tập quán, tuổi tác....
  • Hiện trạng quản lí chất thải nguy hại trong nhà là kém.

Đây chỉ là các giả thuyết đưa ra cần được chứng minh bằng thực tế khảo sát, xử lí dữ liệu ở phần sau.

Cách thức thực hiện khảo sát

Phần này nêu rõ nguyên tắc thực hiện, quy trình thực hiện theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật nào. Đây là phần xác định tính khoa học cuả đề tài

Lưạ chọn đối tượng khảo sát

  • Điạ bàn có các đối tượng khảo sát thuộc đủ các loại trên: kinh tế khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, học vấn khác nhau... Lưạ chọn theo tỉ lệ tương quan với thống kê cuả TPHCM hay Việt Nam để số liệu đại diện được cho TPHCM hay Việt Nam .
  • Điạ bàn có đủ các loại chất thải nguy hại trong nhà: chất tẩy rưả, vệ sinh, pin, chất cháy nổ, rác làm vườn,

Ví dụ: đề tài khảo sát 200 người gồm 4 nhóm chính

  • Sinh viên: 60 người
  • Ngành kỹ thuật: 50 người
  • Ngành kinh tế xã hội: 50 người
  • Nội trợ - hưu trí: 40 người.

Nhận xét:

  • Mẫu khảo sát không đại diện. Số lượng khảo sát chọn là 200 người có đủ để đại diện cho một quận, hay TPHCM hay cho Việt Nam không? Tỉ lệ giưã các nhóm này không tương ứng với tỉ lệ này cuả thống kê Việt Nam, hay cuả TPHCM. Tỉ lệ sinh viên quá cao. Do đó, kết quả khảo sát sẽ cao hơn mức trung bình cuả toàn thể nhân dân vì trình độ học vấn cuả sinh viên cao hơn.
  • Phân nhóm tùy tiện. Phân thành 4 nhóm là sinh viên, ngành kĩ thuật, ngành kinh tế, nội trợ - hưu trí không theo tiêu chí nào: nghề nghiệp, tuổi tác, học vấn, thời gian có khả năng tiếp xúc với chất thải nguy hại... Thiếu hẳn nghề nông hay làm vườn, mà tỉ lệ này rất lớn ở VN.
  • Thiếu tin cậy. Cần có thông tin về các đối tượng này trong phụ lục báo cáo (tên, nghề, điạ chỉ liên hệ...), đảm bảo tính hiện thực cuả đề tài.

Cách lấy mẫu

  • Khảo sát về nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại
    • Cách đưa ra các câu hỏi khảo sát đảm bảo tính khoa học, tính thống kê;

Ví dụ, trong danh sách sản phẩm có chất nguy hại gồm cả túi ni lông, chất hoạt động bề mặt, a xit xitric (là axit yếu, trích từ trái chanh), natri clorua (muối ăn)... là không đúng. Chưa có văn bản pháp luật nào quy định đó là chất nguy hại. Trường hợp cuả chất tạo hương thì tùy theo nồng độ, amôniắc thì tuỳ vào trạng thái... để xác định chất nguy hại hay không.

Nếu đề tài muốn bổ sung nó vào danh sách chât nguy hai thi phải chứng minh có tính chất nguy hại nào.

  • Khảo sát về khối chất thải nguy hại:
    • Xác định rõ chất thải nguy hại là gì: Các chất thải nguy hại đưa ra cần nêu mã nguy hại, mã chất thải nguy hại theo quy định cuả pháp luật, nếu không là thiếu tính khoa học, không thuyết phục.
    • Xác định rõ lấy mẫu chất thải lặp lại, khoảng thời gian giữa 2 lần lấy mẫu đủ dài để sử dụng xong sản phẩm, đem thải bỏ bao bì...

Ví dụ, thời gian lấy mẫu cuả nghiên cứu chỉ 1 tháng sẽ không đủ dài để sử dụng hết các sản phẩm dân dụng có tính nguy hại như pin đại trong đèn pin, pin trong đài phát thanh, bóng đèn, bình điện hay dầu nhớt trong xe máy, bóng đèn....

  • Hiện trạng quản lí chất thải nguy hại trong nhà
    • Khảo sát bằng bảng câu hỏi với các cán bộ quản lí môi trường;
    • Khảo sát thực tế thải bỏ, thu gom cuả người dân;
    • Khảo sát các văn bản pháp quy về quản lí chất nguy hại phát sinh từ sinh hoạt trong nhà

Ví dụ, khảo sát thực hiện với 3 người: 1 người làm quản lí môi trường cấp quận, 1 người cấp phường, 1 người làm công tác thu gom rác.

Nhận xét, tương tự như trên, số lượng mẫu khảo sát quá nhỏ, không đại diện cho nhà quản lí môi trường... Kết quả không thể tổng quát hoá cho cả TP hay VN được.

Cở sở lí thuyết xử lí dữ liệu khảo sát

  • Tổng kết bao nhiêu nguời trả lời có, bao nhiêu người trả lời không
  • Khối lượng chất thải nguy hại mỗi lần lấy mẫu.
  • Cách tính toán để loại bỏ các sai số, xác định giá trị trung bình, đại diện, xác định được các mối quan hệ theo giả thuyết đưa ra ở trên...

Trình bày pháp pháp xử lí số liệu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn nào. Chi tiết về phương pháp đưa trong phụ lục báo cáo.

Đây là cơ sở xác định tính khoa học cuả đề tài, tính chính xác cuả kết quả. Nếu không trình bầy rõ ràng, đề tài không đáng tin cậy. Nếu phương pháp áp dụng không phù hợp, kết quả không đáng tn cậy.

Ví dụ, báo cáo không trình bày các số liệu thô và cách xử lí số liệu làm cho người đọn không xác định được phương pháp có phù hợp với lục tiêu không, áp dụng có đúng không.

KẾT QUẢ

Phần kết luận trình bày tổng hợp dữ liệu khảo sát, KHÔNG bàn luận về ý nghĩa các kết quả đó.

Dữ liệu nên tổ chức thành bảng, hình ảnh, sơ đồ,... .

Xác định

  • Mức độ nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại trong nhà là bao nhiêu?
  • Khối lượng chất thải nguy hại phát sinh trong hộ gia đình là bao nhiêu?
  • Hiện trạng quản lí chất thải nguy hại trong nhà là kém?

Xác định hàm số mô tả quan hệ

  • Nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại trong nhà - khối lượng chất thải nguy hại;
  • Khối lượng chất thải nguy hại và các yếu tố ví dụ: kinh tế hộ gia đình, nghề nghiệp, học vấn, phong tục tập quán, tuổi tác.... ;

BÀN LUẬN

Dựa vào tổng hợp dữ liệu ở trên, bạn nêu các kết luận và nhấn mạnh vào việc xử lí số liệu, mối liên quan của dữ liệu và lí thuyết hay kiến thức đã biết.

Kết quả ở trên phải đưa ra được kết luận

  • Nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại trong nhà là rất thấp hay cao?
  • Khối lượng chất thải nguy hại phát sinh trong hộ gia đình là đáng kể hay không?

Ví dụ, nếu không thể xác định khối lượng chất thải nguy hại vì thời gian khảo sát quá ngắn, khối lượng quá ít thì không thể có kết quả khối lượng chất thải gnuy hại nhiều hay ít, có đáng kể hay không.

  • Nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại trong nhà ảnh hưởng đến khối lượng chất thải nguy hại hay không?
  • Khối lượng chất thải nguy hại phụ thuộc vào các yếu tố ví dụ: kinh tế hộ gia đình, nghề nghiệp, học vấn, phong tục tập quán, tuổi tác.... hay không phụ thuộc yếu tố nào cả?

Ví dụ, kết luận rằng khối lượng chất thải nguy hại phụ thuộc ngành nghề mà không mô tả mối quan hệ này bằng hàm toán học thì kết luận không tin cậy.

Ví dụ, kết luận "Các hộ gia đình có thu nhập cao sẽ có khuynh hướng sử dụng nhiều sản phẩm có chứa chất nguy hại hơn các hộ gia đình có thu nhập thấp." nhưng không đưa ra khái niệm thế nào là thu nhập cao, thấp, và không có khối lượng chất thải nguy hại cuả các hộ gia đình thuộc 2 loại thu nhập cao và thu nhập thấp.

  • Công tác quản lí chất thải nguy hại trong nhà là tốt hay kém?

Ví dụ, kết luận rằng khảo sát thấy sản phẩm nguy hại dân dụng không dán nhãn cảnh báo nguy hại hay sản phẩm nguy hại không ghi nhãn tiếng Việt trên sản phẩm nhập khẩu nhưng không nêu văn bản pháp quy nào yêu cầu bắt buộc phải dán các loại nhãn này. Vậy nếu không nêu được văn bản pháp luật thì không có cơ sở để bắt buộc thi hành. Nếu muốn đề xuất phải áp dụng phải chứng minh quan hệ giữ không dán nhãn và mức độ nguy hiểm gặp phải.

Các ví dụ trên cho thấy kết luận chỉ là cảm tính, thiếu cơ sở khoa học.

ĐỀ XUẤT

Đưa ra các đề xuất phải xuất phát từ cơ sở khảo sát thực tế. Giải pháp quản lí hay kĩ thuật cần trình bày kĩ về tài chính, nhân sự để đảm bảo tính khả thi.

Các giải pháp có thể đưa ra là

  • Thông tin về chất nguy hại trong nhà và hướng dẫn thải bỏ an toàn;

Ví dụ, đề xuất dán nhãn cảnh báo nguy hại là không cần thiết. Phần này đã có trong văn bản pháp quy rồI, mẫu nhãn cảnh báo nguy hại đã có tiêu chuẩn. Minh họa bằng các nhãn cảnh báo cuả châu Âu mà không đưa cuả Việt Nam là thiển cận, không phù hợp.

Ví dụ, đề xuất danh sách chất thải nguy hại trong nhà mà không trình bày mã nguy hại theo quy định pháp luật chứng tỏ tác giả chưa nắm vững pháp luật và danh sách không đáng tin cậy. Danh sách không xác định được những chất thải nào phổ biến nhất ở Việt Nam, chỉ sao chép cuả nước ngoài có thành phần khác nhiều. Điều này chứng tỏ danh sách không đi từ thực tiễn khảo sát cuả đề tài.

  • Nên xây dựng một mô hình thu gom loại hình chất thải nguy hại trong nhà ở cấp phường. Để xử lí được chất thải nguy hại cần xây dựng mô hình quy mô cấp thành phố, tỉnh. Xây dựng hoàn chỉnh một dự án từ khâu thu gom, vận chuyển, xử lí đến thải bỏ; tính toán cụ thể nguồn vốn, vốn đầu tư, nhân sự, chi phí vận hành, lợi nhuận... ;

Ví dụ, các giải pháp truyền thông và kiểm soát chất thải chỉ nêu tên, không đưa ra các thức thực hiện, chi phí,... không ai sẽ thực hiện theo được thì đề xuất viển vông, không khả thi.

Ví dụ, vì ô nhiễm trên diện rộng, tính chất nguy hại cao, nên đề xuất TP. trang bị thiết bị ứng cứu sự cố trị giá vài tỉ đồng. Ai sẽ chi khoản tiền này, tốn bao nhiêu tiền để bảo trì khi không có sự coó không sử dụng...?

 

KẾT LUẬN

© Trần Minh Hải. An toàn Môi trường :: http://environment-safety.com.

Cập nhật nội dung: 23/07/2009.