BẢN NHẬN XÉT MẪU
MÔI TRƯỜNG > Kĩ năng sinh vên > Dịch vụ đọc nhận xét báo cáo khoa học > Đề tài quản lí chất thải nguy hại trong hộ gia đình
Trong trang này
Nhận xét chung
Bố cục
Các lỗi chung
|
NHẬN XÉT BÁO CÁO ĐỀ TÀI
QUẢN LÍ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG HỘ GIA ĐÌNH
Người đọc nhận xét: ThS. Trần Minh Hải
Nhận xét chung
- Đề tài rất thời sự, có ý nghiã xã hội lớn, nghiên cứu mới.
- Số liệu khảo sát thiếu khoa học, thiếu tin cậy.
- Xã hội trông chờ sản phẩm cụ thể, đưa vào ứng dụng ngay thì đề tài chưa có. Sản phẩm hướng dẫn sử dụng sản phẩm nguy hại cuả đề tài chưa đưa ra công chúng. Các đề xuất quản lí chỉ nêu tên, thiếu khả thi.
Bố cục
- Gom hai chương TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI Và CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG HỘ GIA ĐÌNH thành một, không lan man.
- Trình bày lộn xộn giữa hai phần tổng quan các giải pháp quản lí chất thải nguy hại và đề xuất giải pháp quản lí.
- Tình hình kinh tế xã hội cuả điạ bàn khảo sát để ở một chương độc lập là quá rườm rà, không cân xứng.
Các lỗi chung
Thiếu ghi nguồn trích dẫn
Nhận xét từng phần báo cáo
Giới thiệu đề tài
Mục tiêu
Nên nêu 2 ý chính
- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn nguy hại phát sinh trong hộ gia đình.
- Đề xuất các giải pháp quản lý, hướng dẫn thải bỏ và sử dụng phù hợp với thực tế tại địa phương.
Nội dung đề tài
- "Xác định và thiết lập bảng danh sách nhận biết các chất thải nguy hại thường phát sinh từ các hộ gia đình": "Xác định và lập bảng danh sách" là công việc. Bạn nên viết là “hướng dẫn” nhận biết chất thải nguy hại trong hộ gia đình.
- "Đề xuất cách sử dụng, bảo quản, thải bỏ an toàn đối với các chất thải nguy hại phát sinh từ các hộ gia đình cho nhân dân": Nên viết là “hướng dẫn” … thay vì "Đề xuất". Như vậy đề tài tạo ra sản phẩm là tài liệu hướng dẫn miễn phí chẳng hạn. Sản phẩm rất cụ thể, không phải là báo cáo suông.
- Xác định tỉ lệ khối lượng giữa chất thải nguy hại và chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình. Tại sao chỉ xác định tỉ lệ mà không phải là xác định khối lượng chính xác? Thực chất, đề tài chưa xác định được số liệu này, nên viết là “xác định các loại chất thải nguy hại”
- “Đề xuất một số giải pháp”… chỉ là một số, không phải tất cả, cũng không tiêu biểu… Viết thế này không khoa học, giảm giá trị đề tài.
- "Báo cáo tổng hợp" không phải là nội dung đề tài, đây là công việc cuả đề tài.
Phương pháp luận
- "Kiến thức môn học..." không phải là cơ sở khoa học,
- Nên viết các ý
- Dựa trên khảo sát thực tế để đánh giá hiện trạng.
- Dựa vào thực tế khảo sát, kinh nghiệm quản lí cuả các nước tiên tiến và tại VN để đề xuất giải pháp quản li: thu gom, vận chuyển…
Phương pháp nghiên cứu
- Xử lí số liệu bằng phương pháp nào: phần mềm gì, công thức gì?
- Phương pháp khảo sát thực tế theo tiêu chuẩn nào
Sản phẩm
- "Báo cáo tổng hợp" không phải là sản phẩm cuả đề tài, đây là công việc phải làm để trình bày đề tài.
Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu ở đây là chất thải rắn nguy hại trong hộ gia đình, không gồm chất thải nguy hại dạng khí, lỏng..., không phải là người dân.
- Người dân là đối tượng khảo sát nhận thức về chất thải nguy hai.
- Hiện trạng quản lí chât thải nguy hại là một trong những khí cạnh nghiên cứu.
Đặt vấn đề
- Bạn trình bày những ví dụ đơn lẻ, không tổng quát được tình hình.
Phần này nên trình bày
- Hoàn cảnh: chất thải nguy hại phát sinh từ hộ gia đình tai VN. Bạn nên nêu tổng quát về chất thải nguy hại ở nước ta (số liệu), bao nhiêu phần từ dân dụng, bao nhiêu phần từ công nghiệp, nông nghiệp….
- Dẫn đến đề tài: tên đề tài cụ thể.
Tổng quan chất thải nguy hại
- Chỉ là các nghiên cứu lẻ tẻ, phiến diện, chưa tổng quan các nghiên cứu cuả Việt Nam và trên thế giới về chất thải nguy hại từ hộ gia đình. Phần này cũng nên trình bày tổng quan về hiện trạng quản lí chất thải nguy hại phát sinh từ trong nhà.
- Bổ sung về các giải pháp đã thực hiện: Ngày hội tái chế do Quỹ tái chế chất thải TPHCM tổ chức;...Các kế hoạch đã thử nghiệm mà chưa thành công và các nguyên nhân cuả nó: Chương trình phân loại rác tại nguồn; .... Trong phần đề xuất có nhắc đến làm lộn xộn.
- Nên hân loại các sản phẩm nguy hại. Liệt kê danh sách hàng loạt, không phân loại là không khoa học.
- Phần tác hại cuả chất nguy hại trong gia đình còn rất lặt vặt, không tổng quát…
- Bổ sung tổng quan về kinh nghiệm quản lí chất thải nguy hại cuả thế giới. Trong kết luận có nêu mà chưa thấy trình bày trong phần nội dung.
Cách thức thực hiện khảo sát
Lưạ chọn đối tượng khảo sát
- Mẫu khảo sát không đại diện. Số lượng khảo sát chọn là 200 người có đủ để đại diện cho một quận, hay TPHCM hay cho Việt Nam không? Tỉ lệ giưã các nhóm này không tương ứng với tỉ lệ này cuả thống kê Việt Nam, hay cuả TPHCM. Ví dụ, tỉ lệ sinh viên quá cao (60/200). Do đó, kết quả khảo sát sẽ cao hơn mức trung bình cuả toàn thể nhân dân vì trình độ học vấn cuả sinh viên cao hơn.
- Phân nhóm tùy tiện. Phân thành 4 nhóm là sinh viên, ngành kĩ thuật, ngành kinh tế, nội trợ - hưu trí không theo tiêu chí nào: nghề nghiệp, tuổi tác, học vấn, thời gian có khả năng tiếp xúc với chất thải nguy hại... Thiếu hẳn nghề nông hay làm vườn, mà tỉ lệ này rất lớn ở VN.
- Thiếu tin cậy. Cần có thông tin về các đối tượng này trong phụ lục báo cáo (tên, nghề, điạ chỉ liên hệ...), đảm bảo tính hiện thực cuả đề tài.
Cách lấy mẫu
Khảo sát nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại
- Trong danh sách sản phẩm có chất nguy hại gồm cả túi ni lông, chất hoạt động bề mặt, a xit xitric (là axit yếu, trích từ trái chanh), natri clorua (muối ăn)... là không đúng. Chưa có văn bản pháp luật nào quy định đó là chất nguy hại. Trường hợp cuả chất tạo hương thì tùy theo nồng độ, amôniắc thì tuỳ vào trạng thái... để xác định chất nguy hại hay không. Nếu đề tài muốn bổ sung chúng vào danh sách chất nguy hại thi phải chứng minh có tính chất nguy hại nào.
Khảo sát về khối chất thải nguy hại
- Xác định chất thải nguy hại thiếu tính khoa học, không thuyết phục: Các chất thải nguy hại đưa ra cần nêu mã nguy hại, mã chất thải nguy hại theo quy định cuả pháp luật,
- Khoảng thời gian giữa 2 lần lấy mẫu không đủ dài để sử dụng xong sản phẩm, đem thải bỏ bao bì... : thời gian lấy mẫu chỉ 3 tuần không đủ dài để sử dụng hết các sản phẩm dân dụng có tính nguy hại như pin đại trong đèn pin, pin trong đài phát thanh, bóng đèn, bình điện hay dầu nhớt trong xe máy, bóng đèn....
Hiện trạng quản lí chất thải nguy hại trong nhà
- Khảo sát thực hiện với 3 người: 1 người làm quản lí môi trường cấp quận, 1 người cấp phường, 1 người làm công tác thu gom rác. Số lượng mẫu khảo sát quá nhỏ, không đại diện cho nhà quản lí môi trường... Kết quả không thể tổng quát hoá cho cả TP hay VN được.
- Thiếu khảo sát các văn bản pháp quy về quản lí chất nguy hại phát sinh từ hộ gia đình. Đây chính là nhược điểm cuả đề tài, khiến các đề xuất bị thiển cận.
Cở sở khoa học xử lí dữ liệu khảo sát
- Không trình bày dữ liệu khảo sát : Tổng kết bao nhiêu nguời trả lời có, bao nhiêu người trả lời không
- Không có số liệu khối lượng chất thải nguy hại mỗi lần lấy mẫu.
- Không trình bày cách tính toán để loại bỏ các sai số, xác định giá trị trung bình, đại diện, xác định được các mối quan hệ khối lượng rác và nghề nghiệp, mưá độc giàu nghèo ...
Báo cáo không trình bày các số liệu thô và cách xử lí số liệu làm cho người đọc không xác định được phương pháp có phù hợp với mục tiêu không, áp dụng có đúng không.
KẾT QUẢ
- Mức độ nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại trong nhà là thấp mà không rõ từ số liệu nào.
- Không xác định được khối lượng chất thải nguy hại phát sinh trong hộ gia đình là bao nhiêu.
- Hiện trạng quản lí chất thải nguy hại trong nhà là kém không rõ từ số liệu nào
- Không xác định được hàm số mô tả quan hệ nhận thức cuả người dân về chất thải nguy hại trong nhà - khối lượng chất thải nguy hại; Khối lượng chất thải nguy hại và các yếu tố ví dụ: kinh tế hộ gia đình, nghề nghiệp, học vấn, ... không kết luận được ảnh hưởng.
BÀN LUẬN
Các kết luận chỉ là cảm tính, thiếu cơ sở khoa học.
- Không thể xác định khối lượng chất thải nguy hại vì thời gian khảo sát quá ngắn, khối lượng quá ít thì không thể có kết quả khối lượng chất thải nguy hại nhiều hay ít, có đáng kể hay không.
- Kết luận rằng khối lượng chất thải nguy hại phụ thuộc ngành nghề mà không mô tả mối quan hệ này bằng hàm toán học.
- Kết luận các hộ gia đình có thu nhập cao sẽ có khuynh hướng sử dụng nhiều sản phẩm có chứa chất nguy hại hơn các hộ gia đình có thu nhập thấp. nhưng không đưa ra khái niệm thế nào là thu nhập cao, thấp, và không có khối lượng chất thải nguy hại cuả các hộ gia đình thuộc 2 loại thu nhập cao và thu nhập thấp.
- Khối lượng chất thải nguy hại phụ thuộc vào các yếu tố khác học vấn, phong tục tập quán... ?
- Kết luận rằng khảo sát thấy sản phẩm nguy hại dân dụng không dán nhãn cảnh báo nguy hại hay sản phẩm nguy hại không ghi nhãn tiếng Việt trên sản phẩm nhập khẩu nhưng không nêu văn bản pháp quy nào yêu cầu bắt buộc phải dán các loại nhãn này. Vậy nếu không nêu được văn bản pháp luật thì không có cơ sở để bắt buộc thi hành. Nếu muốn đề xuất phải áp dụng phải chứng minh quan hệ giữ không dán nhãn và mức độ nguy hiểm gặp phải.
ĐỀ XUẤT
Đề tài đưa ra các đề xuất không xuất phát từ cơ sở khảo sát thực tế, thiếu tính khả thi.
- Đề xuất dán nhãn cảnh báo nguy hại là không cần thiết. Phần này đã có trong văn bản pháp quy rồI, (Việc ghi nhãn hàng nguy hiểm được thực hiện theo các quy định trong quy chế ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Biểu trưng hàng nguy hiểm được ban hành theo nghị định cuả Chính phủ năm 2003.) mẫu nhãn cảnh báo nguy hại đã có tiêu chuẩn. Minh họa bằng các nhãn cảnh báo cuả châu Âu mà không đưa cuả Việt Nam là thiển cận, không phù hợp.
- Chất thải nguy hại không dãn nhãn được như sản phẩm mà chỉ dán nhãn trên thùng chưá chất thải nguy hại. . Sản phẩm trong danh mục chất nguy hại phải dán nhãn cảnh báo nguy hại.
- Nhãn cảnh báo nguy hại có trong TCVN 6707 2000.Nhãn cảnh báo chất thải nguy hại có hình tam giác, không phải hình vuông. Hình vuông là nhãn cho sản phẩM.
- Phân biệt SẢN PHẨM và CHAT THẢI nguy hại.
- Dấu hiệu tái sinh: dán trên các vật liệu có thể tái sinh, phục hồi; không phải là nhãn nguy hại.
- Đề xuất danh sách chất thải nguy hại trong nhà mà không trình bày mã nguy hại theo quy định pháp luật chứng tỏ tác giả chưa nắm vững pháp luật và danh sách không đáng tin cậy. Danh sách không xác định được những chất thải nào phổ biến nhất ở Việt Nam, chỉ sao chép cuả nước ngoài có thành phần khác nhiều. Điều này chứng tỏ danh sách không đi từ thực tiễn khảo sát cuả đề tài.
- Hướng dẫn sử dụng: Việt Nam không có trung tâm tiếp nhận chất thải nguy hại. Thiếu giải thích các hành động
- Các giải pháp truyền thông và kiểm soát chất thải chỉ nêu tên, không tính toán cụ thể nguồn vốn, vốn đầu tư, nhân sự, chi phí vận hành, lợi nhuận... Không ai sẽ thực hiện theo được thì đề xuất viển vông, không khả thi.
- Không có mô hình thu gom loại hình chất thải nguy hại trong nhà ở cấp phường như trong phần giới thiệu nội dung đề tài
- Các giai phap quản lí da thuc hien roi hay chua? Cai nao do tac gia de xuat. Cac giai phap nay trinh bay chua neu bat duoc tinh moi!
- Giaải pháp rất chung chung! Bạn chép sách ra, không phải là đeè xuất trên cơ sở nghiên cứu hay khảo sát cuả đeè tài. Ai đưa ra cũng được khoong cần bạn nghiên cứu. .
- Ngày hội đổi chất thải nguy hại lấy quà đã có rồi. Bạn đưa ở phần đề xuất giải pháp là ộn xộn, không thấy được phần mới đề xuất. Cung không nên đưa hình ảnh chụp vào phần đề xuất vì nó làm lẫn lộn rằng giải pháp đã có, không nêu bật được những đề xuất mới. Không thấy cải tiến gì ở đề xuất cuả bạn.
KẾT LUẬN
- Tổng kết nhưng kết quả thu được cuả ddề tài cần có số liệu cụ thể.
- Nên sưả cách viết, viết như bạn tực mình làm giảm giá trị đề tài. Tự bạn nói mình làm đeè tài dở ẹt. Thời gian thực hiện đeè tài 6 tháng mà bạn khảo sát thực thế chỉ 3 tuần, trong khi bố trid khảo sát dựa vào đói tượng nghiên cứu thì caafn dài hơn. Trong kết luận cũng không nên giải thích lí do thất bại.
- Hướng phát triển đề tài là ý neeu ra cuối cùng.
PHỤ LỤC
Đề xuất bổ sung phụ lục
Phụ lục 1: Khái niệm về chất thải nguy hại
Phụ lục 2: Các biểu mẫu câu hỏi
Phụ lục 3: Danh sách các doi tuong khảo sat
Phu luc 4: Kết quả khảo sát và xử lí dữ liệu
- Trình bày pháp pháp xử lí số liệu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn nào: Chi tiết về phương pháp cáo.
Phụ lục 5: Thông tin sử dụng, thải bỏ chất nguy hại trong hộ gia đình
Phụ lục 6: Tính toán chi phí các giải pháp quản lí CTNH từ hộ gia đình
Câu hỏi chất vấn
- Dựa trên cơ sở nào bạn đưa ra danh sách chất thải nguy hại? Tại sao danh sách chỉ có 31 sản phẩm nguy hại?
- phan loai thanh 6 loai chat thai nguy hai trong gia dinh la theo tieu chi nao, hay theo phap luat, hay tac gia tu dua ra?
- Tai sao lai phan nganh nghe thanh 4 loai: sinh vien, ki thuat, xa hoi - kinh tê, noi tro?
- Khảo sát trên 200 người để đưa ra kết luận cho số đông? Có đủ thuyết phục không? Xử lí số liệu có loại được các mẫu không chính xác? Có xác định được các trả lời có trung thực hay khong?
© Trần Minh Hải. An
toàn Môi trường :: http://environment-safety.com.
cập nhật nội dung: 19/08/2009. |